Tóm tắt
So sánh cho thấy cùng mô hình phúc lợi rộng, Đan Mạch năm 2025 có thặng dư 2,9% GDP và nợ công 27,9% GDP, còn Pháp thâm hụt 5,1% và nợ 115,6% GDP. Động lực khác biệt nằm ở kỷ luật: Luật Ngân sách 2012 của Đan Mạch giới hạn thâm hụt cấu trúc ở mức 1% GDP và áp trần chi bắt buộc theo chu kỳ bốn năm cho nhà nước, đô thị và vùng, chặn “đường vòng” dồn chi sang địa phương. Bài học đến từ khủng hoảng đầu thập niên 1980 với lạm phát 10%, lãi dài hạn 22% và nợ phình nhanh; chính phủ của Poul Schlüter sau đó siết kỷ luật, từ bỏ phá giá và duy trì neo tỷ giá từ 1982, gắn với euro từ 1999.
Đan Mạch còn giảm gánh già hóa nhờ trụ cột hưu trí tích lũy, khi phần lớn thu nhập hưu đến từ tiết kiệm. Thụy Sĩ trải qua bùng nợ 1990–1998 (từ 31% lên 54% GDP) rồi năm 2001 thông qua “phanh nợ” hiến định bằng trưng cầu với 85% ủng hộ: trần chi liên bang gắn với thu điều chỉnh theo chu kỳ, cho phép thâm hụt khi suy thoái và buộc thặng dư khi tăng trưởng; sai lệch ghi vào “tài khoản cân bằng” và phải khắc phục. Kết quả là nợ quanh một phần tư GDP; Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ (Confédération suisse) kết thúc năm 2025 với thặng dư 0,3 tỷ franc. Điểm chung của hai nước là quy tắc có hiệu lực thực thi, không phải khuyến cáo tùy nghi.
Pháp không có ngân sách thặng dư từ 1974. Từ 1981, chương trình của François Mitterrand (quốc hữu hóa, tăng lương tối thiểu, tuần nghỉ thứ năm, giảm giờ làm, nghỉ hưu ở tuổi 60) kéo theo mất cân bằng thương mại, ba lần phá giá và đặc biệt là chi tiêu công tăng, lên khoảng 54% GDP năm 1985 và không quay lại mức cũ; năm 2025 chi tiêu công đạt 57,2% GDP. Ngân sách 2026 được thông qua không qua bỏ phiếu cuối cùng tại Quốc hội Pháp (Assemblée nationale), chính phủ trụ vững nhờ nhượng bộ phe xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch thâm hụt 5% GDP, Ủy ban châu Âu dự báo 5,1% và Quỹ Tiền tệ Quốc tế hoài nghi mục tiêu dưới 3% vào 2029.
Chi phí lãi đã vượt chi cho giáo dục và quốc phòng trong nửa đầu 2026 và nếu không củng cố có thể chạm 124 tỷ EUR/năm vào 2030. Trái phiếu 10 năm của Pháp tháng 8/2026 có lợi suất cao hơn cả Hy Lạp và nhỉnh hơn Ý; bù rủi ro so với Đức gần mức đỉnh từ 2012. Về kinh tế, củng cố ngân sách khả thi nhưng Quốc hội phân mảnh không tạo được đa số, khác biệt cốt yếu so với Đan Mạch và Thụy Sĩ nơi chuyên môn kỹ trị tài chính lấn át toan tính chính trị.
Tại Cộng hòa Séc, mức nợ thấp hơn Pháp nhưng quỹ đạo đáng lo. Ngân sách nhà nước 2026 đặt thâm hụt 310 tỷ korun; dự báo tháng 8 của Bộ Tài chính (Ministerstvo financí) cho thấy thâm hụt khu vực chính phủ tổng thể 2,7% GDP và nợ tăng từ 44,2% lên 45,8%, dù kinh tế dự kiến tăng 1,9%. Thiếu hụt không do sụt thu: thuế và đóng góp bắt buộc khoảng 33% GDP năm 2015, 34% năm 2023 và sơ bộ 34,6% năm 2024; thâm hụt cấu trúc đến từ phía chi.
Năm 2015 tài khóa kết ở mức -0,6% GDP rồi hai năm sau thặng dư; đến 2025 thâm hụt khoảng 2,1%. Chi tiêu tăng chừng 2 điểm phần trăm GDP, chủ yếu do chuyển giao xã hội; nhu cầu chi vượt tăng trưởng thu bền vững ngay cả ngoài suy thoái. Chi phí phục vụ nợ đạt 98,1 tỷ korun năm 2025 và dự toán 110 tỷ năm nay, tương đương khoảng một phần ba chi công cho giáo dục, nghĩa là ngân sách ngày càng dành cho “quá khứ” thay vì đầu tư tương lai.
“Phanh nợ” của Séc không ở tầm hiến định và thiếu cơ chế sửa sai hiệu quả. Hội đồng Ngân sách Quốc gia (Národní rozpočtová rada) nêu rằng dự toán 2026 vượt trần chi theo luật 64 tỷ korun nhưng vẫn được thông qua, tín hiệu đáng lo hơn cả mức nợ hiện tại. Thành công của Đan Mạch và Thụy Sĩ nằm ở quy tắc đi kèm hệ quả khi vi phạm; nợ công của Séc còn cách xa Pháp về quy mô, nhưng logic chính trị lại gần với mô hình Pháp hơn.
Đan Mạch còn giảm gánh già hóa nhờ trụ cột hưu trí tích lũy, khi phần lớn thu nhập hưu đến từ tiết kiệm. Thụy Sĩ trải qua bùng nợ 1990–1998 (từ 31% lên 54% GDP) rồi năm 2001 thông qua “phanh nợ” hiến định bằng trưng cầu với 85% ủng hộ: trần chi liên bang gắn với thu điều chỉnh theo chu kỳ, cho phép thâm hụt khi suy thoái và buộc thặng dư khi tăng trưởng; sai lệch ghi vào “tài khoản cân bằng” và phải khắc phục. Kết quả là nợ quanh một phần tư GDP; Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ (Confédération suisse) kết thúc năm 2025 với thặng dư 0,3 tỷ franc. Điểm chung của hai nước là quy tắc có hiệu lực thực thi, không phải khuyến cáo tùy nghi.
Pháp không có ngân sách thặng dư từ 1974. Từ 1981, chương trình của François Mitterrand (quốc hữu hóa, tăng lương tối thiểu, tuần nghỉ thứ năm, giảm giờ làm, nghỉ hưu ở tuổi 60) kéo theo mất cân bằng thương mại, ba lần phá giá và đặc biệt là chi tiêu công tăng, lên khoảng 54% GDP năm 1985 và không quay lại mức cũ; năm 2025 chi tiêu công đạt 57,2% GDP. Ngân sách 2026 được thông qua không qua bỏ phiếu cuối cùng tại Quốc hội Pháp (Assemblée nationale), chính phủ trụ vững nhờ nhượng bộ phe xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch thâm hụt 5% GDP, Ủy ban châu Âu dự báo 5,1% và Quỹ Tiền tệ Quốc tế hoài nghi mục tiêu dưới 3% vào 2029.
Chi phí lãi đã vượt chi cho giáo dục và quốc phòng trong nửa đầu 2026 và nếu không củng cố có thể chạm 124 tỷ EUR/năm vào 2030. Trái phiếu 10 năm của Pháp tháng 8/2026 có lợi suất cao hơn cả Hy Lạp và nhỉnh hơn Ý; bù rủi ro so với Đức gần mức đỉnh từ 2012. Về kinh tế, củng cố ngân sách khả thi nhưng Quốc hội phân mảnh không tạo được đa số, khác biệt cốt yếu so với Đan Mạch và Thụy Sĩ nơi chuyên môn kỹ trị tài chính lấn át toan tính chính trị.
Tại Cộng hòa Séc, mức nợ thấp hơn Pháp nhưng quỹ đạo đáng lo. Ngân sách nhà nước 2026 đặt thâm hụt 310 tỷ korun; dự báo tháng 8 của Bộ Tài chính (Ministerstvo financí) cho thấy thâm hụt khu vực chính phủ tổng thể 2,7% GDP và nợ tăng từ 44,2% lên 45,8%, dù kinh tế dự kiến tăng 1,9%. Thiếu hụt không do sụt thu: thuế và đóng góp bắt buộc khoảng 33% GDP năm 2015, 34% năm 2023 và sơ bộ 34,6% năm 2024; thâm hụt cấu trúc đến từ phía chi.
Năm 2015 tài khóa kết ở mức -0,6% GDP rồi hai năm sau thặng dư; đến 2025 thâm hụt khoảng 2,1%. Chi tiêu tăng chừng 2 điểm phần trăm GDP, chủ yếu do chuyển giao xã hội; nhu cầu chi vượt tăng trưởng thu bền vững ngay cả ngoài suy thoái. Chi phí phục vụ nợ đạt 98,1 tỷ korun năm 2025 và dự toán 110 tỷ năm nay, tương đương khoảng một phần ba chi công cho giáo dục, nghĩa là ngân sách ngày càng dành cho “quá khứ” thay vì đầu tư tương lai.
“Phanh nợ” của Séc không ở tầm hiến định và thiếu cơ chế sửa sai hiệu quả. Hội đồng Ngân sách Quốc gia (Národní rozpočtová rada) nêu rằng dự toán 2026 vượt trần chi theo luật 64 tỷ korun nhưng vẫn được thông qua, tín hiệu đáng lo hơn cả mức nợ hiện tại. Thành công của Đan Mạch và Thụy Sĩ nằm ở quy tắc đi kèm hệ quả khi vi phạm; nợ công của Séc còn cách xa Pháp về quy mô, nhưng logic chính trị lại gần với mô hình Pháp hơn.
