Tóm tắt
Đợt dịch Ebola hiện nay ở châu Phi có nguy cơ leo thang thành nghiêm trọng nhất lịch sử. Kể từ khi tình trạng khẩn cấp toàn cầu được tuyên bố vào tháng 5, ca bệnh ở Cộng hòa Dân chủ Congo và Uganda tăng mạnh, còn viện trợ quốc tế vấp phải sự ngờ vực của cộng đồng địa phương.
Nửa thế kỷ trước, ngày 27/6/1976 tại nhà máy bông ở Nzara (Nam Sudan), một thủ kho ký hiệu Y. G. lên sốt cao, đau ngực và đầu dữ dội. Năm ngày sau ông xuất huyết và qua đời ngày 6/7. Thiếu biện pháp y tế chuẩn khiến virus lan rộng; riêng bệnh viện Maridi, 33 trong 61 y tá tử vong.
Cùng thời điểm, các ca sốt xuất huyết bí ẩn bùng lên ở Zaire (nay là Cộng hòa Dân chủ Congo). Nhóm nghiên cứu quốc tế do nhà vi sinh học sir Peter Karel Piot dẫn đầu chứng kiến nhiều gia đình kiệt quệ, mê sảng, đau đớn và chảy máu từ các hốc tự nhiên.
Phản ứng ban đầu không đủ mạnh, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trì hoãn công bố tình trạng khẩn cấp vì lo kinh tế các nước châu Phi bị tổn hại. Khi các nhóm tới nơi, nhờ biện pháp của chính quyền địa phương và quốc gia, đợt bùng phát với chưa đầy 300 ca tử vong đã suy giảm.
Virus được nhận diện đầu tiên ở Yambuku, nhưng để tránh kỳ thị địa danh, các nhà khoa học đặt tên theo sông Ebola gần đó. Phân tích di truyền sau này chỉ ra hai chủng khác biệt, và virus được xếp vào họ Filoviridae có dạng sợi giống sán; đến nay đã ghi nhận năm loài, trong đó chủng Zaire đặc biệt nguy hiểm.
Tỷ lệ tử vong ước tính của chủng Zaire lên tới 88% (280/318 ca), còn chủng Sudan khoảng 53% (151/284 ca). Ebola lây sang người theo cơ chế lây truyền từ động vật, nhưng vật chủ tự nhiên giúp virus tồn tại âm thầm đến nay vẫn chưa xác định chắc chắn.
Nửa thế kỷ trước, ngày 27/6/1976 tại nhà máy bông ở Nzara (Nam Sudan), một thủ kho ký hiệu Y. G. lên sốt cao, đau ngực và đầu dữ dội. Năm ngày sau ông xuất huyết và qua đời ngày 6/7. Thiếu biện pháp y tế chuẩn khiến virus lan rộng; riêng bệnh viện Maridi, 33 trong 61 y tá tử vong.
Cùng thời điểm, các ca sốt xuất huyết bí ẩn bùng lên ở Zaire (nay là Cộng hòa Dân chủ Congo). Nhóm nghiên cứu quốc tế do nhà vi sinh học sir Peter Karel Piot dẫn đầu chứng kiến nhiều gia đình kiệt quệ, mê sảng, đau đớn và chảy máu từ các hốc tự nhiên.
Phản ứng ban đầu không đủ mạnh, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trì hoãn công bố tình trạng khẩn cấp vì lo kinh tế các nước châu Phi bị tổn hại. Khi các nhóm tới nơi, nhờ biện pháp của chính quyền địa phương và quốc gia, đợt bùng phát với chưa đầy 300 ca tử vong đã suy giảm.
Virus được nhận diện đầu tiên ở Yambuku, nhưng để tránh kỳ thị địa danh, các nhà khoa học đặt tên theo sông Ebola gần đó. Phân tích di truyền sau này chỉ ra hai chủng khác biệt, và virus được xếp vào họ Filoviridae có dạng sợi giống sán; đến nay đã ghi nhận năm loài, trong đó chủng Zaire đặc biệt nguy hiểm.
Tỷ lệ tử vong ước tính của chủng Zaire lên tới 88% (280/318 ca), còn chủng Sudan khoảng 53% (151/284 ca). Ebola lây sang người theo cơ chế lây truyền từ động vật, nhưng vật chủ tự nhiên giúp virus tồn tại âm thầm đến nay vẫn chưa xác định chắc chắn.
