Tóm tắt
Mùa hè 2026, hầu khắp Romania ghi nhận dòng chảy thấp, hồ chứa chịu áp lực, sông Danube tại Baziaș xuống khoảng 1.450 m³/giây so với mức trung bình dài hạn 3.900 m³/giây cho tháng 8. Nước tưới tiêu bị hạn chế và Unitatea 1 của Nhà máy điện hạt nhân Cernavodă dừng dự phòng vì mực nước Danube thấp. Cơ quan Quản lý Quốc gia “Apele Române” (Administrația Națională "Apele Române") cảnh báo Danube có thể xuống dưới mức tối thiểu của tháng 8/2003 vào ngày 6/8, hai tuần kế tiếp mang tính quyết định. Trong bức tranh chung ấy, lưu vực Someș nổi bật như ngoại lệ trong các tài liệu của nhà nước.
Chiến lược Quốc gia về Thích ứng với Biến đổi Khí hậu (Strategia Națională privind Adaptarea la Schimbările Climatice), được Chính phủ (Guvern) phê duyệt tháng 8/2024, dự báo xu hướng giảm dòng chảy trung bình nhiều năm ở hầu hết lưu vực: giảm đến 5% ở một số khu vực tây bắc, khoảng 15% ở nhiều vùng khác và tới 40% ở một số lưu vực miền nam. Ngoại lệ duy nhất là lưu vực sông Someș với xu hướng tăng tài nguyên nước trong giai đoạn 2021–2050 so với mốc 1971–2000.
Phân tích chi tiết năm 2024 của Viện Thủy văn và Quản lý Nguồn nước Quốc gia (Institutul Național de Hidrologie și Gospodărire a Apelor) và Cơ quan Khí tượng Quốc gia (Administrația Națională de Meteorologie) cho thấy tài nguyên nước toàn lưu vực Someș có thể tăng trung bình khoảng 6%. Ở Someșul Mic, một số tiểu lưu vực có thể tăng 10–23%, trong khi Someșul Mare không có mức tăng tương tự; các sông Vișeu, Iza và Tur có xu hướng ổn định hơn là tăng. Dù vậy, đầu tháng 8/2026, nhiều sông trong lưu vực Someș chỉ đạt dưới 30% mức trung bình tháng, cho thấy xu hướng dài hạn không loại trừ hạn ngắn hạn.
Nguyên nhân chính là biến đổi lượng mưa. Mô phỏng thủy văn toàn quốc dự báo lượng mưa trung bình giảm 3,2% và ở một số vùng giảm trên 10%, nhưng lưu vực Someș lại tăng trung bình khoảng 5,5%/năm. Lưu vực này nhận nước từ các vùng núi Rodnei, Gutâi, Țibleș, Bârgău, Călimani (1.000–1.400 mm/năm) và Apuseni (800–1.200 mm/năm), nơi các mô hình dự báo cường độ mưa có thể tăng đáng kể. Sự kết hợp “mưa nhiều hơn ở tây bắc” cùng diện tích núi lớn giúp cân bằng nước hàng năm cho Someș, trái ngược với miền nam nơi mưa giảm, nhiệt tăng và bốc hơi mạnh.
Tuy nhiên, tăng trung bình năm không đồng nghĩa hết hạn. Mô hình cho thấy nước dịch chuyển về đầu năm: dòng chảy tăng vào mùa đông (nhất là tháng 1–2) và giảm vào tháng 4–5 và giai đoạn tháng 8–11; băng tuyết tan sớm làm nước đổ về sông sớm hơn. Một nghiên cứu dành cho lưu vực Someș của INHGA chỉ ra có thể tăng đến 39% lưu lượng trung bình tháng vào tháng 2 trong một kịch bản, nhưng giảm đến 37% vào tháng 7. Vì thế Someș có thể nhiều nước hơn tính trung bình năm vẫn có những mùa hè hoặc mùa thu rất kiệt, như tình hình tháng 8/2026 đã cho thấy.
Tài nguyên năm lớn hơn còn có mặt trái là nguy cơ lũ. Nếu mưa dồn dập trong khoảng thời gian ngắn, nước chảy tràn nhanh, làm tăng đột ngột lưu lượng, giảm thấm xuống đất, gây lũ quét và ngập mà không cải thiện tương xứng nước ngầm hay dòng chảy mùa kiệt. Chiến lược của Chính phủ cảnh báo lưu lượng đỉnh gắn với các trận lũ hiếm có thể tăng ở hơn nửa diện tích Romania giai đoạn 2021–2050; mưa dông dữ dội hơn cùng bề mặt đô thị không thấm nước làm tăng dòng chảy mặt và rủi ro ngập đô thị.
Chiến lược Quốc gia về Thích ứng với Biến đổi Khí hậu (Strategia Națională privind Adaptarea la Schimbările Climatice), được Chính phủ (Guvern) phê duyệt tháng 8/2024, dự báo xu hướng giảm dòng chảy trung bình nhiều năm ở hầu hết lưu vực: giảm đến 5% ở một số khu vực tây bắc, khoảng 15% ở nhiều vùng khác và tới 40% ở một số lưu vực miền nam. Ngoại lệ duy nhất là lưu vực sông Someș với xu hướng tăng tài nguyên nước trong giai đoạn 2021–2050 so với mốc 1971–2000.
Phân tích chi tiết năm 2024 của Viện Thủy văn và Quản lý Nguồn nước Quốc gia (Institutul Național de Hidrologie și Gospodărire a Apelor) và Cơ quan Khí tượng Quốc gia (Administrația Națională de Meteorologie) cho thấy tài nguyên nước toàn lưu vực Someș có thể tăng trung bình khoảng 6%. Ở Someșul Mic, một số tiểu lưu vực có thể tăng 10–23%, trong khi Someșul Mare không có mức tăng tương tự; các sông Vișeu, Iza và Tur có xu hướng ổn định hơn là tăng. Dù vậy, đầu tháng 8/2026, nhiều sông trong lưu vực Someș chỉ đạt dưới 30% mức trung bình tháng, cho thấy xu hướng dài hạn không loại trừ hạn ngắn hạn.
Nguyên nhân chính là biến đổi lượng mưa. Mô phỏng thủy văn toàn quốc dự báo lượng mưa trung bình giảm 3,2% và ở một số vùng giảm trên 10%, nhưng lưu vực Someș lại tăng trung bình khoảng 5,5%/năm. Lưu vực này nhận nước từ các vùng núi Rodnei, Gutâi, Țibleș, Bârgău, Călimani (1.000–1.400 mm/năm) và Apuseni (800–1.200 mm/năm), nơi các mô hình dự báo cường độ mưa có thể tăng đáng kể. Sự kết hợp “mưa nhiều hơn ở tây bắc” cùng diện tích núi lớn giúp cân bằng nước hàng năm cho Someș, trái ngược với miền nam nơi mưa giảm, nhiệt tăng và bốc hơi mạnh.
Tuy nhiên, tăng trung bình năm không đồng nghĩa hết hạn. Mô hình cho thấy nước dịch chuyển về đầu năm: dòng chảy tăng vào mùa đông (nhất là tháng 1–2) và giảm vào tháng 4–5 và giai đoạn tháng 8–11; băng tuyết tan sớm làm nước đổ về sông sớm hơn. Một nghiên cứu dành cho lưu vực Someș của INHGA chỉ ra có thể tăng đến 39% lưu lượng trung bình tháng vào tháng 2 trong một kịch bản, nhưng giảm đến 37% vào tháng 7. Vì thế Someș có thể nhiều nước hơn tính trung bình năm vẫn có những mùa hè hoặc mùa thu rất kiệt, như tình hình tháng 8/2026 đã cho thấy.
Tài nguyên năm lớn hơn còn có mặt trái là nguy cơ lũ. Nếu mưa dồn dập trong khoảng thời gian ngắn, nước chảy tràn nhanh, làm tăng đột ngột lưu lượng, giảm thấm xuống đất, gây lũ quét và ngập mà không cải thiện tương xứng nước ngầm hay dòng chảy mùa kiệt. Chiến lược của Chính phủ cảnh báo lưu lượng đỉnh gắn với các trận lũ hiếm có thể tăng ở hơn nửa diện tích Romania giai đoạn 2021–2050; mưa dông dữ dội hơn cùng bề mặt đô thị không thấm nước làm tăng dòng chảy mặt và rủi ro ngập đô thị.
