Tóm tắt
Věra Linhartová, nhà thơ và nhà văn, qua đời tại Paris (Pháp) ở tuổi 88. Thông tin do nhà văn Jaromír Typlt chia sẻ, cho biết bà mất vào thứ Sáu ngày 26/6/2026.
Giai đoạn 1962–1966, bà tham gia Nhóm Siêu thực Praha (pražská surrealistická skupina). Sáng tác đặc trưng bởi thử nghiệm ngôn ngữ, bà trở thành gương mặt chủ chốt và đồng thời là người đặt nền móng cho văn xuôi thực nghiệm Séc trong thập niên 1960.
Sau khi rời Cộng hòa Séc sang Pháp năm 1968, bà bắt đầu viết bằng tiếng Pháp. Bên cạnh văn chương, bà làm chuyên gia mỹ thuật, đặc biệt tại Bảo tàng Nghệ thuật châu Á Guimet (Musée Guimet), quan tâm đến nghệ thuật Nhật Bản và dịch sang tiếng Pháp các văn bản về Phật giáo Thiền tông. Tư liệu ảnh ghi lại bà dự lễ trao Giải Jaroslav Seifert cùng František Janouch, Dagmar Havlová và Václav Havel.
Sinh ngày 22/3/1938 tại Brno, bà học lịch sử nghệ thuật tại Khoa Nghệ thuật, Đại học UJEP (FF UJEP) và học thêm mỹ học tại Khoa Nghệ thuật, Đại học Charles (FF UK). Bà làm việc tại Trung tâm Bảo tồn Di sản cấp vùng (Krajské středisko památkové péče) ở Brno (1959–1960) và Pardubice (1960–1962).
Từ 1962 đến 1966, bà công tác tại Phòng trưng bày Nam Séc Alš ở Hluboká (Alšova jihočeská galerie), sau đó dành trọn thời gian cho văn học. Trong thời gian này, bà đồng tổ chức triển lãm Imaginativní malířství 1930–1950 (Hluboká 1964) cùng František Šmejkal và chuẩn bị các triển lãm hồi cố của Jindřich Štyrský và Toyen tại Brno (đông 1966–1967) và Praha (1967).
Định cư ở Paris từ 1968, bà thân thiết với họa sĩ Josef Šíma và dành cho ông một chuyên khảo. Từ 1969, bà sáng tác bằng tiếng Pháp; giai đoạn 1970–1989 làm việc tại thư viện Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (International Council of Museums) thuộc UNESCO.
Tại Đại học Paris (Université de Paris), ở Viện Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông (Institut National des Langues et Civilisations Orientales), bà theo học Nhật Bản học (1978–1985). Trong quá trình làm luận án, bà có một năm nghiên cứu tại Đại học Waseda (Waseda University) 1989–1990, học thêm tiếng Trung và sang thăm Trung Quốc. Từ 1990, bà làm tại Musée Guimet, tập trung vào hội họa Nhật Bản và Trung Quốc; hoàn thành luận án Sur un fond blanc... năm 1993, sau đó nghỉ hưu.
Giai đoạn 1962–1966, bà tham gia Nhóm Siêu thực Praha (pražská surrealistická skupina). Sáng tác đặc trưng bởi thử nghiệm ngôn ngữ, bà trở thành gương mặt chủ chốt và đồng thời là người đặt nền móng cho văn xuôi thực nghiệm Séc trong thập niên 1960.
Sau khi rời Cộng hòa Séc sang Pháp năm 1968, bà bắt đầu viết bằng tiếng Pháp. Bên cạnh văn chương, bà làm chuyên gia mỹ thuật, đặc biệt tại Bảo tàng Nghệ thuật châu Á Guimet (Musée Guimet), quan tâm đến nghệ thuật Nhật Bản và dịch sang tiếng Pháp các văn bản về Phật giáo Thiền tông. Tư liệu ảnh ghi lại bà dự lễ trao Giải Jaroslav Seifert cùng František Janouch, Dagmar Havlová và Václav Havel.
Sinh ngày 22/3/1938 tại Brno, bà học lịch sử nghệ thuật tại Khoa Nghệ thuật, Đại học UJEP (FF UJEP) và học thêm mỹ học tại Khoa Nghệ thuật, Đại học Charles (FF UK). Bà làm việc tại Trung tâm Bảo tồn Di sản cấp vùng (Krajské středisko památkové péče) ở Brno (1959–1960) và Pardubice (1960–1962).
Từ 1962 đến 1966, bà công tác tại Phòng trưng bày Nam Séc Alš ở Hluboká (Alšova jihočeská galerie), sau đó dành trọn thời gian cho văn học. Trong thời gian này, bà đồng tổ chức triển lãm Imaginativní malířství 1930–1950 (Hluboká 1964) cùng František Šmejkal và chuẩn bị các triển lãm hồi cố của Jindřich Štyrský và Toyen tại Brno (đông 1966–1967) và Praha (1967).
Định cư ở Paris từ 1968, bà thân thiết với họa sĩ Josef Šíma và dành cho ông một chuyên khảo. Từ 1969, bà sáng tác bằng tiếng Pháp; giai đoạn 1970–1989 làm việc tại thư viện Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (International Council of Museums) thuộc UNESCO.
Tại Đại học Paris (Université de Paris), ở Viện Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông (Institut National des Langues et Civilisations Orientales), bà theo học Nhật Bản học (1978–1985). Trong quá trình làm luận án, bà có một năm nghiên cứu tại Đại học Waseda (Waseda University) 1989–1990, học thêm tiếng Trung và sang thăm Trung Quốc. Từ 1990, bà làm tại Musée Guimet, tập trung vào hội họa Nhật Bản và Trung Quốc; hoàn thành luận án Sur un fond blanc... năm 1993, sau đó nghỉ hưu.
