Tóm tắt
Tại Moskva, Tổng thống Nga Vladimir Putin ký sắc lệnh tăng biên chế bộ máy trung ương của Cơ quan Bảo vệ Liên bang (Federální ochranná služba, FSO), lực lượng chịu trách nhiệm bảo vệ cá nhân ông, đánh dấu lần tăng cường thứ tư kể từ khi chiến sự tại Ukraine bùng nổ.
Theo báo Novaja Gazeta (Novaja Gazeta), biên chế quân nhân và nhân viên dân sự của bộ phận trung ương FSO tăng từ 785 lên 812, tiếp nối chuỗi biện pháp an ninh được siết chặt trong thời chiến. Cổng thông tin Kyiv Post (Kyiv Post) cho biết động thái diễn ra giữa lúc lan truyền suy đoán rằng Điện Kremlin lo ngại nguy cơ ám sát hoặc đảo chính.
Bên cạnh cơ quan trung ương được mô tả là “trung tâm thần kinh”, FSO được cho có hàng chục nghìn nhân sự chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản nhà nước và quan chức cấp cao. Nhiệm vụ chính gồm bảo vệ tổng thống và gia đình, cùng các thành viên chính phủ, bao gồm cả thủ tướng; đồng thời bảo đảm an ninh cho Điện Kremlin, các tòa nhà Nghị viện và hàng chục dinh tổng thống, chính phủ được gia cố kiên cố.
Một số đơn vị chuyên trách trực thuộc FSO đảm nhiệm các vai trò nhạy cảm. Dịch vụ Thông tin Liên lạc Đặc biệt (Specsvjaz) quản lý “cặp hạt nhân” của tổng thống, trong khi Cơ quan An ninh Tổng thống (Prezidentská bezpečnostní služba) phụ trách bảo vệ cự ly gần cho ông Putin.
Về lịch sử biên chế, sắc lệnh đầu tiên về cơ quan trung ương FSO được ông Putin ban hành năm 2004, ấn định 600 người. Con số này nhiều lần tăng lên và đạt 725 dưới thời Dmitrij Medvedev vào năm 2010; sau đó gần 13 năm không đổi cho tới cuối năm 2022, khi được nâng lên 760. Từ mốc trước chiến tranh là 725, các lần điều chỉnh kể từ 2022 đã đẩy biên chế lên 812, tương đương tăng khoảng 12%.
Các quy định đối với nhân sự làm việc sát bên tổng thống bị thắt chặt: cấm dùng điện thoại có Internet, yêu cầu đeo khẩu trang và tháo đồng hồ trước khi gặp ông. Quy tắc “không điện thoại, không đồng hồ” còn áp dụng với các thống đốc và một số thành viên nội các. FSO cũng cắt giảm mạnh các chuyến đi của ông Putin, chủ yếu tới các cơ sở an ninh tối đa, và tăng cường bảo vệ khi ra nước ngoài; trong chuyến thăm Kazakhstan tháng 5, đoàn hộ tống gồm xe bọc thép, trực thăng và xe trang bị hệ thống tác chiến điện tử.
Theo báo Novaja Gazeta (Novaja Gazeta), biên chế quân nhân và nhân viên dân sự của bộ phận trung ương FSO tăng từ 785 lên 812, tiếp nối chuỗi biện pháp an ninh được siết chặt trong thời chiến. Cổng thông tin Kyiv Post (Kyiv Post) cho biết động thái diễn ra giữa lúc lan truyền suy đoán rằng Điện Kremlin lo ngại nguy cơ ám sát hoặc đảo chính.
Bên cạnh cơ quan trung ương được mô tả là “trung tâm thần kinh”, FSO được cho có hàng chục nghìn nhân sự chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản nhà nước và quan chức cấp cao. Nhiệm vụ chính gồm bảo vệ tổng thống và gia đình, cùng các thành viên chính phủ, bao gồm cả thủ tướng; đồng thời bảo đảm an ninh cho Điện Kremlin, các tòa nhà Nghị viện và hàng chục dinh tổng thống, chính phủ được gia cố kiên cố.
Một số đơn vị chuyên trách trực thuộc FSO đảm nhiệm các vai trò nhạy cảm. Dịch vụ Thông tin Liên lạc Đặc biệt (Specsvjaz) quản lý “cặp hạt nhân” của tổng thống, trong khi Cơ quan An ninh Tổng thống (Prezidentská bezpečnostní služba) phụ trách bảo vệ cự ly gần cho ông Putin.
Về lịch sử biên chế, sắc lệnh đầu tiên về cơ quan trung ương FSO được ông Putin ban hành năm 2004, ấn định 600 người. Con số này nhiều lần tăng lên và đạt 725 dưới thời Dmitrij Medvedev vào năm 2010; sau đó gần 13 năm không đổi cho tới cuối năm 2022, khi được nâng lên 760. Từ mốc trước chiến tranh là 725, các lần điều chỉnh kể từ 2022 đã đẩy biên chế lên 812, tương đương tăng khoảng 12%.
Các quy định đối với nhân sự làm việc sát bên tổng thống bị thắt chặt: cấm dùng điện thoại có Internet, yêu cầu đeo khẩu trang và tháo đồng hồ trước khi gặp ông. Quy tắc “không điện thoại, không đồng hồ” còn áp dụng với các thống đốc và một số thành viên nội các. FSO cũng cắt giảm mạnh các chuyến đi của ông Putin, chủ yếu tới các cơ sở an ninh tối đa, và tăng cường bảo vệ khi ra nước ngoài; trong chuyến thăm Kazakhstan tháng 5, đoàn hộ tống gồm xe bọc thép, trực thăng và xe trang bị hệ thống tác chiến điện tử.
